 |
|
|
PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP Ở NAM ĐỊNH NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX.
Sau một thời gian dài chuẩn bị, ngày 1-9-1958, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tiến công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh chinh phục vương quốc Đại Nam. Hành động xâm lược này của chúng đã đặt vận mệnh của toàn dân tộc ta trước thử thách sống còn. Hoà cùng với cuộc kháng chiến anh dũng của cả nước, nhân dân Nam Định đã đóng góp một phần xứng đáng.
Phong trào Nam tiến do Phạm Văn Nghị khởi xướng (1860).
 |
|
Đền thờ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị ở xã Yên Thắng, huyện Ý Yên |
Mùa thu năm 1859, Hoàng giáp tiến sỹ Phạm Văn Nghị, Đốc học Nam Định đã gửi Trà Sơn kháng sớ đến vua Tự Đức để bày tỏ nguyện vọng quyết tâm kháng chiến của dân Nam Định và đề nghị cho phép ông lập một đội nghĩa binh vào chiến trường đánh giặc. Mặc dù Trà Sơn kháng sớ của ông không được Tự Đức chính thức phê chuẩn, nhưng với tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm của một kẻ sỹ trước vận mệnh dân tộc, Phạm Văn Nghị vẫn giương cao cờ nghĩa, chiêu binh vào Nam đánh Pháp.
Ngày 22-2-1860, đoàn nghĩa binh làm lễ xuất quân tại nhà Học chính Nam Định. Sau một tháng hành quân, ngày 21-3-1860, đoàn nghĩa binh tới Huế. Lúc đó tình hình chiến sự đã thay đổi. Quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng, chuyển hướng vào phía nam tiến công thành Gia Định. Phạm Văn Nghị cùng đoàn nghĩa binh vẫn xin triều đình cho vào Nam đánh giặc. Tuy nhiên, nguyện vọng chính đáng ấy của đoàn nghĩa binh đã không được vua Tự Đức chấp thuận. Sự kiện này đã bước đầu bộc lộ mâu thuẫn giữa tinh thần kiên quyết kháng chiến của nhân dân với thái độ bạc nhược, cầu hòa của triều Nguyễn, đứng đầu là vua Tự Đức.
Hành động và ý chí kiên quyết chống giặc của Phạm Văn Nghị và sỹ dân thành Nam đã đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Định khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873).
Đứng trước cuộc tiến công xâm lược của giặc Pháp, triều đình Huế tỏ ra hết sức lúng túng, không biết và không dám dựa vào dân, lại bị phân hóa thành năm bè bảy cánh. Triều đình đã quyết định ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), cắt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) cùng với quần đảo Côn Lôn cho Pháp.
Tháng 11-1864, sĩ tử trường thi Nam Định không hẹn mà gặp đã cùng với sĩ tử trường thi Hà Nội và Thừa Thiên phản đối triều đình ký Hiệp ước Nhâm Tuất. Lần đó, những người khởi xướng đã bị bắt giam. Ở Nam Định, hai sĩ tử Đỗ Văn Vịnh và Nguyễn Huy Đạt đã bị phạt đòn vì những hành động yêu nước nói trên.
Sau khi chiếm được Hà Nội (20-11-1873), quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng bằng cách tiến đánh các tỉnh phía đông và nam Hà Nội. Chúng chiếm Hưng Yên (23-11), Phủ Lý (26-11), Ninh Bình (5-12). Ngày 11-12-1873, Gácniê hội quân đánh chiếm thành Nam Định theo hai hướng tây và nam với một lực lượng hỗn hợp gồm 111 tên.
Tại trận chiến kịch liệt này đã ghi nhận nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của những người con ưu tú của thành Nam, như Nguyễn Văn Hộ, Trần Vĩnh Cát, Ngô Lý Diện, Đặng Huy Trinh cùng hơn 100 binh sĩ khác. Họ đã tô hồng lên trang sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam nói chung, của mảnh đất Nam Định nói riêng.
Thành mất, nhưng ý chí chiến đấu của người Nam Định không mất. Tiếng súng kháng Pháp vẫn vang lên khắp nơi. Nhiều căn cứ kháng chiến được hình thành, tiêu biểu là căn cứ Bảo Long và An Hòa. Trong khi phong trào chiến đấu của nhân dân Bắc Kỳ nói chung, nhân dân Nam Định nói riêng đang diễn ra quyết liệt, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn thì triều Nguyễn lại ký với Pháp Hiệp ước ngày 15-3-1874, rồi Hiệp ước thương mại vào tháng 8 - 1874. Như vậy, một lần nữa, triều đình nhà Nguyễn đã tự tách ra khỏi phong trào đấu tranh của dân tộc, đi ngược lại với nguyện vọng và ý chí quyết chiến của nhân dân. Nguy hại hơn, triều đình còn ra lệnh giải giáp các đội nghĩa binh ở Nam Kỳ và cấm việc thành lập các đội dân binh ở Bắc và Trung Kỳ.
Phong trào kháng chiến của nhân dân từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882) đến phong trào Cần Vương.
Sau khi tình hình chiến sự ở Nam Kỳ tạm ổn định, thực dân Pháp mong muốn chiếm luôn cả vùng Bắc Kỳ. Rút kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến lần trước, quân dân Nam Định đã tích cực chuẩn bị chiến đấu.
Ngày 23-8-1883, đại tá Pháp Rivie đích thân chỉ huy quân đi đánh Nam Định với một lực lượng khá mạnh gồm 10 tàu chiến và bốn thuyền vận tải. Sáu giò sáng ngày 26-3-1883, Rivie ra lệnh cho quân lính nổ súng phá thành.
Mặc dù có thinh thần chiến đấu cao, sẵn sàng xả thân vì sự tồn vong của thành, song quân ta vẫn không thể cản nổi quân địch. Với ưu thế về vũ khí và hỏa lực mạnh, sau nhiều giờ giao chiến ác liệt khoảng 13h ngày 27-3-1883 quân Pháp đã chiếm được thành Nam Định.
Sau khi quân Pháp chiếm được thành Nam, lực lượng kháng chiến gồm quân và dân binh ở Nam Định đã rút về các vùng Mỹ Trọng, Cầu Gia, Tiểu Cốc, xây dựng tuyến phòng thủ bao vây quân địch. Sau mấy tháng bị uy hiếp, quân Pháp quyết định tập trung lực lượng để phá vỡ tuyến bao vây của quân ta. Ngày 19-7-1883, địch đã huy động một binh lực lớn gồm 450 tên, với sự yểm trợ của tàu chiến nống ra càn quét ở Tiểu Cốc.
Trong khi quân dân Bắc Kỳ nói chung, quân dân Nam Định nói riêng đang sục sôi khí thế đánh Pháp, vua tôi triều Nguyễn lại do dự và cuối cùng đi tới quyết định ký Hòa ước Hácmăng (Harmand) ngày 25-8-1883 và Điều ước Patơnốt (Patenôtre) ngày 6-6-1884. Theo đó, về căn bản nước ta mất quyền độc lập, tự chủ trên phạm vi cả nước, triều đình Huế chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, mọi việc chính trị, ngoại giao, kinh tế đều do người Pháp khống chế và nắm giữ.
Tháng 7-1885, vua Hàm Nghi, một ông vua yêu nước, khởi nghĩa ở Kinh thành Huế và sau đó ban hành chiếu Cần Vương. Sĩ dân Nam Định đã lập tức đứng lên đáp lời kêu gọi của vị vua yêu nước. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phạm Nhân Lý, Tạ Hiện, Phạm Trung Thứ...
Nhìn chung lại, ngay từ buổi đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nhân dân Nam Định đã cùng với nhân dân cả nước tích cực tham gia kháng chiến chống quân xâm lược. Nam Định thực sự thành một trung tâm kháng chiến chống Pháp trên đất Bắc.
NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
Từ cuối thế kỷ XIX, các phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân Nam Định đã dần tạm lắng xuống. Thực dân Pháp đã về căn bản đã hoàn thành công cuộc bình định và bắt đầu thực hiện các chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của chúng.
Ngay sau khi bình định xong Nam Định, thực dân Pháp đã nhanh chóng tiến hành việc phân chia lại địa giới hành chính. Đến đầu thế kỷ XX ở Nam Định có một thành phố và chín huyện. Đó là thành phố Nam Định và các huyện: Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Trực Ninh, Nam Trực, Xuân Trường, Giao Thủy, Nghĩa Hưng và Hải Hậu.
Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cấu trúc kinh tế - xã hội và bộ mặt của Nam Định đã có những biến đổi sâu sắc và toàn diện. Chỉ trong vòng hơn chục năm, bộ mặt thành phố đã hoàn toàn đổi khác. Tòa thành cũ đã bị người Pháp phá dỡ từng phần. Thay vào đó là những công sở, dinh thự mới mọc lên. Những đường phố mới được rải nhựa, đèn điện thắp sáng đêm đêm. Kho tàng, bến bãi, nhà ga xe lửa được xây dựng, tạo cơ sở cho việc xuất hiện Nhà máy dệt, Nhà máy tơ, Nhà máy chai... Dân cư thành Nam cung tăng nhanh với một kết cấu mới, đủ mặt mọi thành phần của cư dân đô thị cận đại: công nhân, tư sản, tiểu tư sản, học sinh, trí thức tự do, quan chức thực dân và bản xứ cùng một số không nhỏ nông dân ven thị. Nam Định dần trở thành một trong ba đô thị lớn nhất Bắc Kỳ thời Pháp thuộc.
 |
|
Nhà máy sợi Nam Định xây dựng vào đầu thế kỷ XX | Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ngành công nghiệp ở Nam Định đã hình thành và phát triển khá nhanh chóng. Cùng với Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn nhất Đông Dương. Tuy nhiên, ngành công nghiệp ở Nam Định thời kỳ này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Giá trị sản lượng công nghiệp cao, nhưng thành quả lao động ấy chủ yếu rơi vào tay giới chủ, còn công nhân lao động chẳng được hưởng là bao.
Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống mạng lưới chợ từ thành phố đến nông thôn, đặc biệt là chợ Rồng được xếp vị trí thứ hai ở Bắc Kỳ sau chợ Đồng Xuân (Hà Nội) về cả quy mô lẫn hoạt động kinh doanh đã chứng tỏ sự phát triển nhanh và mạnh của ngành thương nghiệp Nam Định. Thương nghiệp đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng ở Nam Định thời Pháp thuộc.
Hoạt động thủ công nghiệp ở Nam Định nổi tiếng là đẹp và tinh xảo, tuy nhiên, các hoạt động còn gắn chặt với nông nghiệp, phụ thuộc vào nông nghiệp. Chỉ trừ một số phố nghề ở thành phố có tính chuyên nghiệp cao, còn ở nông thôn số các làng chuyên, thợ chuyên không nhiều. Đây chính là hạn chế của thủ công nghiệp ở Nam Định.
Về nông nghiệp, bên cạnh cây lúa là cây trồng chính chiếm nhiều diện tích trồng trọt nhất và cũng là cây trồng chủ đạo để nuôi sống hàng chục vạn người dân, thì bông trở thành loại cây trồng đứng ở vị trí thứ hai.
Trong quá trình khai thác và bóc lột các nguồn lợi kinh tế ở Nam Định, bên cạnh việc du nhập về Nam Định một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thực dân Pháp vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến, lỗi thời, lạc hậu. Dưới tác động của quá trình nói trên, xã hội Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng đã có những biến chuyển sâu sắc với sự hình thành và phát triển của nhiều giai cấp khác nhau: địa chủ, nông dân, công nhân, tư sản, tiểu tư sản ... Cơ cấu xã hội truyền thống ở Nam Định đã bị biến đổi và xáo trộn mạnh, nhưng chưa bị phá vỡ và thay đổi căn bản.
Những biến đổi về kinh tế - xã hội và quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ở Nam Định đã dẫn đến những chuyển biến mới trong sinh hoạt văn hóa. Sự chuyển biến đó được biểu hiện rõ nét nhất trong sự hình thành nếp sống đô thị ở thành phố Nam Định. Nhưng mặt khác, quá trình đô thị hóa và việc du nhập lối sống phương Tây vào Thành Nam cũng làm nảy ra nhũng thói hư tật xấu mới như trộm cướp, đĩ điếm, nghiện hút...
 |
| Trường thi Nam Định năm 1879 | Về giáo dục, năm 1915 đã diễn ra kỳ thi Hương cuối cùng ở trường thi Nam Định. Đây chính là điểm mốc đánh dấu sự chấm dứt của nền khoa cử nho giáo ở Nam Định. Thay vào đó chính phủ thực dân cho lập ra các trường Pháp - Việt, từng bước chuyển dần nền giáo dục theo mô hình phương Tây.
Trước sự lớn mạnh và phát triển của thành phố, ngày 17-10-1921, Toàn quyền Đông Dương đã ra quyết định công nhận Nam Định được hưởng quy chế của một thành phố cấp II.
Thành phố Nam Định không chỉ là một thành phố công thương nghiệp nổi tiếng đầu thế kỷ XX, mà còn trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa - tư tưởng lớn, một điểm tiếp xúc của luồng giao lưu văn hóa Đông - Tây. Các cụ Phan Bội Châu, Lương Văn Can đều đã tìm đến Nam Định, tuyên truyền và vận động sự ủng hộ của nhân dân Nam Định tham gia phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục.
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG Ở NAM ĐỊNH ĐẦU THẾ KỶ XX
Từ đầu thế kỉ XX, các trào lưu tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản ở phương Tây, sau đó là tư tưởng cách mạng vô sản từ nước Nga Xô Viết đã được truyền bá rộng rãi vào Việt Nam. Nhân dân Nam Định đã hăng hái hòa mình vào phong trào đấu tranh sôi nổi của các giai tầng xã hội trong nước, tiêu biểu là các phong trào:
- Phong trào Đông du và Đông Kinh nghĩa thục.
- Phong trào tẩy chay tư bản nước ngoài.
- Phong trào đòi tự do dân chủ những năm 1925-1926.
Và đặc biệt nổi bật là phong trào đấu tranh của công nhân: Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mới trong hai cuộc khai thác thuộc địa, nhưng đời sống của nhân dân lao động vẫn hết sức cực khổ, đặc biệt là giai cấp công nhân. Ngoài đồng lương rẻ mạt, điều kiện lao động cực khổ, công nhân còn bị đày đọa về thể xác và tinh thần. Họ bị ngược đãi, đánh đập, sa thải, cúp lương và đối xử như nô lệ. Tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa cộng sản được tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (một tổ chức do Nguyễn Ái Quốc thành lập năm 1925) truyền bá, công nhân Nam Định đã vùng dậy đấu tranh.
Ngay từ tháng 5-1909, ở Nam Định đã nổ ra cuộc bãi công đầu tiên của nữ công nhân Nhà máy chai. Từ ngày 27-2 đến 7-3-1924, hơn 100 công nhân ở Nhà máy tơ bãi công. Ngày 11-9-1924, toàn thể công nhân Nhà máy rượu Nam Định tiếp bước cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy rượu Hải Dương, Hà Nội chống lại sự đối xử thô bạo của chủ. Ngày 24-9-1924, 250 công nhân xưởng dệt đóng máy đồng loạt bãi công. Nổi bật nhất là cuộc đấu tranh ngày 30-4-1925 của 2.500 công nhân Nhà máy sợi Nam Định. Cuộc bãi công này đã thực sự gây một tiếng vang lớn. Ngày 30-8-1926, toàn thể công nhân xưởng sợi đã bãi công để phản đối các hành động đánh đập và đòi bồi thường cho chị Nguyễn Thị Vá bị đốc công đánh trọng thương.
Năm 1927, các chi hội của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập ở Nam Định. Đến năm 1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lâm thời thành lập. Các hội viên của hội đã nhanh chóng tham gia các hoạt động đấu tranh của công nhân Nam Định. Mở đầu là cuộc đấu tranh của 24 nữ công nhân thuộc xưởng dệt Nhà máy sợi. Tiêu biểu nhất phải kể đến cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy sợi Nam Định vào tháng 3-1929. Cho đến sáng ngày 20-3-1929, toàn bộ công nhân xưởng A bãi công, tiếp đó công nhân xưởng B bãi công để hưởng ứng. Sau 10 ngày tranh đấu không khoan nhượng, ngày 29-3, bọn chủ nhà máy đã phải chấp nhận các yêu sách của công nhân.
Nhìn chung, các cuộc đấu tranh, mà điển hình là là cuộc đấu tranh của công nhân Nhà máy sợi, đã đánh dấu sự trưởng thành rõ rệt của đội ngũ công nhân Nam Định về trình độ tổ chức, phương pháp đấu tranh và trình độ giác ngộ giai cấp. Sự trưởng thành vượt bậc trong đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và đội ngũ công nhân Nam Định nói riêng đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản để thúc đẩy phong trào đấu tranh của công nhân lên một tầm cao mới.
|